học thuyết pháp lý và vai trò của nó ở Việt Nam – Tài liệu text

Cập nhật ngày 22/11/2022 bởi Mỹ Chi

Bài viết học thuyết pháp lý và vai trò của nó ở Việt Nam – Tài liệu text thuộc chủ đề về Hỏi Đáp thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng Moviee.vn tìm hiểu học thuyết pháp lý và vai trò của nó ở Việt Nam – Tài liệu text trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem bài viết : “học thuyết pháp lý và vai trò của nó ở Việt Nam – Tài liệu text”

Đánh giá về học thuyết pháp lý và vai trò của nó ở Việt Nam – Tài liệu text


Xem nhanh
Trích đoạn giới thiệu tổng quan về các nội dung để thực hành kỹ năng Tư duy pháp lý của LS. Trần Viết Quân. Các bạn quan tâm đến Tư duy pháp lý có thể đặt chỗ qua link này nhé: https://forms.gle/M7eQushjTv7rYV1s9

Link thông tin khóa học: https://bizlight.edu.vn/khoa-hoc/tu-duy-phap-ly/

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (191.61 KB, 20 trang )

Suy nghĩ về học thuyết pháp lý và vai trò của nó ở Việt Nam

Là hệ thống các quan điểm lí luận khoa học hoàn chỉnh về những vấn đề nhà nướcvà pháp luật, học thuyết pháp lí biểu hiện ở cấp độ cao của ý thức pháp luật, tức lànhững ý niệm của con người về hệ thống các thể chế và thiết chế nhà nước.Về mặt cấu trúc, học thuyết pháp lí gồm các khái niệm, phạm trù, quy luật vậnđộng khách quan, những mối LH phổ biến về các hiện tượng nhà nước và phápluật. Học thuyết pháp lí có thể luận giải về nhà nước và pháp luật đã qua, nhà nướcvà pháp luật đang tồn tại hay chủ trương, kiến giải về mô hình nhà nước và phápluật trong tương lai.Tùy theo mỗi cách phân chia với mục tiêu nhất định, học thuyết pháp lí có các loạikhác nhau. Ở mức độ khái quát, qua tiến trình lịch sử phát triển của các chế độ xãhội có giai cấp, có nhà nước và pháp luật, khi khoa học hình thành, các quan điểmcủa các nhà triết học về cuộc sống chính trị, về nhà nước và pháp luật đã xuất hiện.Đến khi các quan điểm, tư tưởng đó chín muồi thì hình thành nên các học thuyếtchính trị – pháp lí. Sau này, với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của khoa học,luật học (khoa học pháp lí) đã tách thành ngành khoa học độc lập, học thuyết pháplí giữ vai trò trung tâm, quyết định sự tồn tại và phát triển của luật học với tư cáchlà ngành khoa học trong hệ thống các khoa học xã hội và nhân văn. Bên cạnh cáchọc thuyết chính trị – pháp lí, về nhà nước và pháp luật nói chung, lúc này nhữnghọc thuyết về các vấn đề cụ thể như tổ chức bộ máy nhà nước về điều chỉnh phápluật, các mô hình pháp luật đã được hình thành và phát triển.Sự phân chia các học thuyết pháp lí thành các học thuyết chung gắn liền với cácvấn đề chính trị và các học thuyết về từng lĩnh vực pháp luật chỉ có tính tương đốivì giữa chúng có mối liên hệ chặt chẽ hữu cơ không thể tách rời. Trên thực tế,chính trị và pháp luật là những hình thái ý thức xã hội thuộc kiến trúc thượng tầng;chính trị là linh hồn của pháp luật, không có pháp luật nào phi chính trị hay chỉ lànhững vấn đề chuyên môn kĩ thuật thuần tuý. Ngược lại không có nền chính trịhay chiều hướng chính trị nào lại không hướng tới vấn đề chính quyền và luật pháp.

Nói như vậy cũng để thấy rằng các học thuyết pháp lí không đơn thuần là những líthuyết về kĩ thuật pháp luật mà chúng luôn luôn thể hiện những vấn đề lợi ích giaicấp; thể hiện lập trường, thế giới quan và nhân sinh quan chính trị sâu sắc.Học thuyết pháp lí với ý nghĩa là hệ thống các quan điểm, các phạm trù, kháiniệm, các nguyên tắc, các quy luật và mối liên lạc có tính thường nhật giữa các hiệntượng nhà nước và pháp luật chỉ được hình thành và phát triển trên cơ sở hoạtđộng có tính đặc thù là hoạt động nhận thức tư duy khoa học. hoạt động thực tiễnvề nhà nước và pháp luật đã có từ trước đó, các quan điểm nhận thức có tính đơnlẻ về nhà nước và pháp luật cũng đã xuất hiện nhưng chỉ đến khi vận hành tư duylí luận có tính chuyên nghiệp xuất hiện thì mới xuất hiện các học thuyết khoa họcnói chung và học thuyết pháp lí nói riêng.Từ thời Cổ đại, trên thế giới đã hình thành những học thuyết chính trị – pháp lí nổitiếng, xuất hiện những trường phái khoa học khác nhau về cùng vấn đề của hiệnthực khách quan trong xã hội, đó là nhà nước và pháp luật. Những học thuyết nổitiếng mà cho đến nay người ta vẫn còn suy ngẫm và kiểm nghiệm như thuyết pháptrị và thuyết đức trị ở Trung Quốc thời cổ.Nhìn chung, các học thuyết pháp lí Cổ đại đã có nhiều đóng góp quan trọng, đặtnền móng cho sự tiếp tục phát triển của luật học thế giới sau này. Có những tưtưởng, quan điểm của các học giả thời đó đến nay vẫn còn nguyên tổng giá trị.Vượt qua đêm trường Trung cổ, chuẩn bị cho cuộc cách mạng dân chủ tư sản lậtđổ chế độ phong kiến thiết lập kiểu nhà nước tư sản, nhiều học thuyết chính trị pháp lí ra đời với những nội dung rất đa dạng đã đem lại cho nền luật học thếgiới những bước tiến vượt bậc. Chẳng hạn: thuyết pháp quyền một cách tự nhiên, thuyết khếước xã hội, thuyết phân quyền…Trên cơ sở tổng kết những thành tựu khoa học của thế giới, các nhà kinh điển của

chủ nghĩa Mác – Lênin đã đưa ra học thưyết khoa học, cách mạng nhất về nhànước và pháp luật. Học thuyết Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật đem lại mộtcách nhìn toàn diện, khách quan, biện chứng và duy vật về những vấn đề chungnhư nguồn gốc, bản chất, vai trò, chức năng của các kiểu nhà nước trong lịch sử và

đặc biệt là đối với nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa – kiểu nhà nước và phápluật tiến bộ nhất và là cuối cùng trong lịch sử loài người. Học thuyết Mác – Lêninvề nhà nước và pháp luật là cơ sở phương pháp luận cho việc hình thành các họcthuyết pháp lí xã hội chủ nghĩa.Trên cơ sở học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lốichính trị của Đảng cộng sản Việt Nam, các học thuyết pháp lí ở nước ta cũng đượchình thành. So với các lĩnh vực khoa học khác, luật học là một ngành khoa họccòn rất non trẻ đối với Việt Nam. Ngoại trừ một số ít các nhà luật học được đàotạo dưới chế độ thực dân Pháp, đa số các nhà khoa học pháp lí nước ta được đàotạo ở Liên Xô và một vài nước xã hội chủ nghĩa khác như Cộng hoà dân chủ Đức,Ba Lan… Bước vào thời kì đổi mới với chính sách đối ngoại đa phương hoá, đadạng hoá, nước ta đã cử hàng loạt sinh viên và nghiên cứu sinh đi đào tạo nghiêncứu, học tập ở thường xuyên nước trên thế giới về các lĩnh vực khoa học, trong đó có lĩnhvực luật học. Đến nay, đội ngũ các nhà khoa học pháp lí của Việt Nam tương đốiphong phú và đang trưởng thành nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xâydựng nhà nước pháp quyền, xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.Nhìn chung nền khoa học pháp lí Việt Nam trong mấy chục năm qua có đặc điểmnổi bật nhất là chịu ảnh hưởng sâu sắc của khoa học pháp lí nước ngoài: Trước đóthì chịu tác động của hệ thống khoa học pháp lí Pháp và châu Âu lục địa, về sauchịu ảnh hưởng của hệ thống khoa học pháp lí Liên Xô. chiều hướng hiện nay củakhoa học pháp lí Việt Nam là vận dụng học thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, đường lối của Đảng, tiếp thu các giá trị chung của nền văn minh nhân loạiđồng thời giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.Học thuyết pháp lí không phải là các quan điểm, tư tưởng đơn lẻ hay các chủtrương, chính sách của lực lượng cầm quyền về nhà nước và pháp luật, nó chỉđược hình thành trên cơ sở hoạt động tư duy lí luận một cách có hệ thống do cácnhà khoa học thực hiện. Nói cách khác, học thuyết pháp lí là danh mục của quátrình nhận thức khoa học sáng tạo về hiện thực xã hội, nó không phải đơn thuần làsản phẩm của ý chí hay lòng mong muốn. Do vậy, không có hoạt động khoa họcmột cách tự do, dân chủ thì cũng không có sự tồn tại của các học thuyết pháp lí.Học thuyết pháp lí không phải là sản phẩm chỉ có ý nghĩa kinh viện, nó có ảnhhưởng rất lớn đến thực tiễn nhà nước và pháp luật. Giới quyền lực bao giờ cũngchịu ảnh hưởng của những quan niệm học thuyết pháp lí nhất định và từ đó hìnhthành trước những ý niệm về một nhà nước và hệ thống pháp luật cần phải có.Thực tế cũng đã chứng minh rằng không có hệ thống pháp luật nước nào có khả năngđầy đủ hoàn toàn để điều chỉnh mọi quan hệ xã hội cần được điều chỉnh. Họcthuyết pháp lí không chỉ gây ảnh hưởng việc hình thành một hệ thống pháp luật cụthể về cơ cấu, về mục đích, nguyên tắc, phương thức điều chỉnh… mà còn đem lạinhững hiểu biết chung, những quan niệm về các tổng giá trị của công bằng, dân chủ,tiến bộ… từ đó mà gây ảnh hưởng các quyết liệt lập pháp, những phán quyết củacơ quan nhà nước trong quá trình áp dụng pháp luật.Học thuyết pháp lí cũng có vai trò to lớn đối với công tác giáo dục nâng cao ý thứcpháp luật trong các tầng lớp nhân dân. Các vấn đề nhà nước và pháp luật đượctrình bày dưới dạng hệ thống tri thức khoa học có tính thuyết phục cao, qua đóthấm sâu vào suy nghĩ, biến thành nếp tư duy và hành động của người dân.Với vai trò và tổng giá trị như vậy, học thuyết pháp lí không chỉ có ý nghĩa học thuật,nó còn góp phần bổ sung và hỗ trợ tích cực cho hệ thống các quy phạm pháp luật.Ngày nay, nếu quan niệm đầy đủ và thực tế về nguồn luật thì cần phải thừa nhậnvai trò không nhỏ của các học thuyết pháp lí.Ở Việt Nam, từ trước, chúng ta không thừa nhận học thuyết pháp lí có tổng giá trị bổ

sung trực tiếp cho hệ thống các quy định pháp luật thực định, thường chúng chỉđược sử dụng có tính chất tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu ở các trường đạihọc, viện khoa học và thường xuyên khi mang tính kinh viện, ít được coi trọng đúng mức.tuy nhiên, trên thực tế ở Việt Nam, học thuyết pháp lí có tác động một cáchgián tiếp theo cả hai chiều (tích cực và tiêu cực) đến quy trình hình thành, pháttriển của hệ thống pháp luật và hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước (cũng trên cơ sởcác quy định của pháp luật). Chẳng hạn, do tác động của nhận thức cứng nhắcđối với quan điểm học thuyết về bản chất, phương thức tổ chức bộ máy nhà nước

xã hội chủ nghĩa theo kiểu “nửa nhà nước”, trong thời kì kinh tế kế hoạch hoá tậptrung bao cấp, hệ thống các bộ phận nhà nước đã được tổ chức triển khai sâu rộngđến thường xuyên lĩnh vực của cuộc sống kinh tế – xã hội, thậm chí bao trùm và che lấp hầuhết các thiết chế của đời sống xã hội dân sự.Trong tổ chức quản lí nền kinh tế trước đây, với tác động của thuyết “quản lítheo chức năng” (tức là nền kinh tế càng được phân chia thành thường xuyên ngành thì sốcơ quan nhà nước cũng phải phình to ra, nếu không thì quản lí khôngxuể),21[1] bộ máy nhà nước cũng được tổ chức một cách cồng kềnh, thường xuyên tầngnấc trung gian. Đối với hệ thống pháp luật, do ảnh hưởng của quan điểm họcthuyết pháp lí của các nước xã hội chủ nghĩa nên hệ thống pháp luật Việt Namcũng mang những điểm riêng. Chẳng hạn, sự không tồn tại của Luật Lao động vớitư cách là ngành luật độc lập (thực chất là một bộ phận trong ngành luật hànhchính) do không tồn tại các quan hệ trao đổi hàng hóa sức lao động.Học thuyết pháp lí có vai trò tích cực trong hoạch định hành động khi áp dụngpháp luật, chẳng hạn lí thuyết về cấu thành tội phạm có ý nghĩa thực tiễn rất to lớnđối với các cơ quan tư pháp nước ta, nhất là trong thời kì nước ta chưa có Bộ luậtHình sự.Nhũng thời đại kinh tế đã qua cũng chấm dứt vai trò của một vài loại học thuyếtpháp lí nhất định. Chẳng hạn, học thuyết của Laptev ở Liên Xô trước đây về môhình ngành luật kinh tế điều chỉnh các quan hệ kinh tế kế hoạch hóa, về hợp đồngkinh tế, về quyền quản lí nghiệp vụ của các xí nghiệp, về hạch toán kinh tế trongnền kinh tế kế hoạch hóa tập trung ở nước ta… Những học thuyết về vai trò, chứcnăng kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế kế hoạch hóa, trongđó biến nhà nước trở thành kiểu nhà nước “toàn trị”22[2] như thuyết “về tính cầnthiết”, “thuyết phân công chức năng”.23[3]Chuyển sang nền kinh tế thị trường, chúng ta phải chuyển đổi tổ chức bộ máy,phương thức hoạt động của nhà nước và xây dựng hệ thống pháp luật với nhữngnội dung và vai trò khác so với thời kì kế hoạch hóa tập trung bao cấp. hoạt độngxây dựng nhà nước và hệ thống pháp luật ở nước ta Hiện tại cần dựa trên nhữngquan niệm mới theo hướng hội nhập quốc tế. Nền học lí pháp luật Việt Nam hiệnnay cần phải được hình thành, thậm chí phải đi trước một bước để định hướng vềlí luận khoa học cho việc triển khai các quan điểm đường lối chính trị của Đảng.có khả năng nói, đây là điểm yếu cần phải khắc phục của khoa học pháp lí Việt NamHiện tại. tuy nhiên, có khả năng nói rằng trong quá trình hội nhập quốc tế, chúng tacũng cần tránh xu hướng du nhập một cách rập khuôn máy móc các học lí phápluật nước ngoài vì điều đó không phải lúc nào cũng mang lại sự tương thích vớikhó khăn kinh tế – xã hội và truyền thống văn hoá Việt Nam. Việc tiếp thu và giaothoa giữa các nền văn hóa trên thế giới là điều khách quan nhưng nền học lí phápluật Việt Nam ngày nay vẫn cần phải căn bản dựa trên nền tảng truyền thống dântộc Việt. Mặc dù vậy, cần phải chú ý một thực tế lịch sử rằng Việt Nam khôngphải là cái nôi sản sinh hay khởi phát ra các học thuyết nói chung mà chỉ tiếp thu,chọn lọc và phát triển nó trong quá trình ứng dụng cho phù hợp với hoàn cảnh củađất nước và con người Việt Nam. Theo tôi, làm tốt được điều đó cũng đã có tácdụng to lớn và rất đáng tự hào rồi2) 2. một số học thuyết pháp lý ở Hilạp cổ đại

Hilạp là quốc gia điển hình về sự phát triển của chế độ CHNL. có khả năng nóivào thế kỷ VII- VI (Tcn) ở Hilạp đã xuất hiện thường xuyên trường phái chính trị, và cáctrường phái đó đều sử dụng mọi lý lẽ để khẳng định tính đúng đắn trong hệ thống tưtưởng của mình.Hệ thống tư tưởng của các nhà tư tưởng thời kỳ này, trước hết được thểhiện trong các trường ca, thần thoại như trường ca của Hôme. Trong các trường cacủa mình Ông cho rằng, việc thiết lập quyền lực của các thiên thần có quan hệ trựctiếp với việc thiết lập công bằng, trật tự của một nhà nước. Trong trường ca đó đãnêu lên tư tưởng của chế độ đương thời, với các nội dung sau:Nhà nước phải có thứ bậc giống như thứ bậc của các thần linh.Trong các trường ca, các vị thần xuất hiện như những người bảo vệ tối caocho sự công bằng, bình đẳng tương đương trừng phạt những kẻ gây ra bạo lực, đauthương, và bất công cho người lương thiện.

Và theo Hôme, công bằng là cơ sở và nguyên tắc của tập quán pháp. Tậpquán pháp là sự chi tiết hóa công bằng vĩnh cửu.một trong số những văn bản đầu tiên ghi chép về sự khởi đầu của việc thiếtlập chính quyền Nhà nước cổ Hilạp là bản Trường ca tuyệt tác của Ghêxiốt (cuốithế kỷ VII- đầu thế kỷ VIII tcn), đây là bản trường ca mang đậm màu sắc bi ai củangười nông dân bị phá sản.Ông buồn vì sự phụ thuộc của những người tốt và hảo tâm vào bọn khốnnạn và tàn ác.Ông tức giận khi chứng kiến bọn quý tộc lộng hành, chúng được tôn vinhnhư thần thánh. Chúng có quyền xét xử, phán quyết những người nghèo khổ và vôtội, mặc dầu bản thân chúng ngập ngụa trong sự dối trá và ăn hối lộ.Ông đã rút ra kết luận: Pháp luật hoàn toàn thuộc về sức mạnh, đau khổdành cho kẻ nghèo hèn, những người muốn tranh đấu với kẻ mạnh để tìm ra chânlý.Từ đó ông đi đến mong muốn: Thần Dớt sẽ vung kiếm chém đầu bọn ápbức, sớm hay muộn Người sẽ trừng trị bọn lộng hành.Trường ca của Ghêxiốt cũng cho rằng:- Thượng đế là thần sáng tạo ra các nguyên tắc và sức mạnh của pháp luật.- Thượng đế là biểu tượng của nhân ái, công bằng, bao dung.Luận vị trí này về sau được phát triển bởi các nhà hiền triết như Pitắc,Xôlông…Xôlông (638- 559 trcn)Ông là nhà hiền triết, nhà vận hành chính trị, hoạt động nhà nước và lập

Mọi Người Cũng Xem   Giáo Dục Sớm Là Gì?

pháp.Quan điểm chính:- Ông đã tiến hành một loạt chủ trương cải cách điền địa nên đã xóa bỏ chếđộ nô lệ nợ nần, quy định ở hữu đất đai cao nhất tương đương quyền chính trị vànghĩa vụ công dân tương ứng với sở hữu điền địa.

– Xác lập các cơ quan quyền lực và đoàn bồi thẩm.ý nghĩa chính ở chỗ: “đã mở một loạt những công việc mà người ta gọi lànhững cuộc cải cách chính trị, bằng cách xâm phạm vào tài sản” Ph.Ăngghen,Tuyển tập, tập 8, Nxb Sự thật, H. 1984, tr. 178.- Lý tưởng của ông mà nền dân chủ tuyển cử ôn hòa, lãnh đạo xã hội lànhững người quyền quý cao sang và giàu có.- Nhân dân có quyền giám sát các quan chức.- Điều bảo đảm cho bình yên quốc gia là chính quyền và luật pháp cứngrắn.- ông cho rằng, tình trạng vô chính phủ sẽ đưa lại tai họa.- Chỉ có Luật pháp mới thiết lập được trật tự và tạo nên sự thống nhất.Ông từng tuyên bố: “Ta phóng ra cho các ngươi bằng quyền lực củaLuật, hãy kết hợp sức mạnh và pháp Luật”.Như vậy, ông đã đặt pháp luật ngang hàng với sức mạnh tức là Nhà nước,đó là 2 nhân tố bảo đảm cho tự do, bình đẳng của xã hội.tuy nhiên, quan điểm của ông mang nặng sự thoả hiệp giai cấp. ông mongmuốn thông qua một số nhượng bộ cho nhân dânvà hạn chế giảm bớt một vài đặc quyềncủa giai cấp quý tộc để đạt được sự tăng cường quyền uy chính trị của giai cấp chủnô.Từ đó ta rút ra một vài kết luận về quan điểm pháp quyền của Xôlông:Nếu như Ghêxiốt đứng về phía những người nông dân và nô lệ thì Xôlôngđại diện cho tầng lớp thị dân đang lên.Tư tưởng cải biến chính trị pháp lý của ông dựa trên cơ sở các quan điểmtriết học.Platon (427- 347 trcn).Là một trong số những nhà tư tưởng vĩ đại của nhân loại, là người lập ra chủnghĩa Duy tâm Triết học. Nhưng ở ông có dặc điểm là những quan điểm chính trị,pháp lý luôn thay đổi, không ổn định trong hệ thống lý luận.Quan điểm của ông được tóm tắt như sau:- Quan điểm về nhà nước pháp luật đều được nâng lên thành lý trí.- Nhà nước lý tưởng đó là có khả năng biểu hiện cực đại của tư tưởng.

– Sớm hình thành tư tưởng nhân quyền dưới cách thức phân công lao độnggiữa những hạng người khác nhéu.- Nguyên tắc cơ bản của xã hội lý tưởng là một cơ thể thống nhất, không bịphân chia, là sự phân công lao động giữa các tầng lớp người khác nhéu.- Phân công lao động trong bộ máy nhà nước là rất cần thiết.- Lập pháp, hành pháp và tư pháp là các vận hành nhà nước, đều nhằm mộtđối tượng, nhưng vẫn có sự khác nhéu.- Theo ông cách thức nhà nước lý tưởng là nhà nước cộng hòa quý tộc,trong đó giới chóp bu của giai cấp chủ nô cầm quyền có thể dường như hiểuđược những tư tưởng siêu đẳng và nắm được những phương pháp cai trị đối vớitoàn bộ đám đông dân chúng còn lại.Về mặt cách thức có khả năng theo hình thức quân chủ hoặc cách thức quý tộc.mặc khác, ông đã đưa ra một nhận xét thiên tài: Mọi thể chế nhà nước tồntại trên thực tế đều đặn đối lập với lý tưởng chính trị và là hình mẫu phản diện củathiết chế xã hội. Bởi vì “Cho dù là Nhà nước nào đi nữa thì trong nó bao giờ cũngcó hai nhà nước thù địch lẫn nhéu: Một là, nhà nước của người giàu có, còn nhànước kia là của người nghèo khổ”.Ông cũng đưa ra quan điểm về vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội.ông nhấn mạnh việc điều hành nhà nước thuộc về người thượng lưu, trongđó có các nhà triết họcKhông thể không nói đến quan điểm của ông về vai trò của pháp luật tronghoạt động nhà nước. Ông cho rằng, nhà nước lý tưởng là nhà nước có các đạo luậtcông bằng, là các đạo luật được quyết liệt bởi trí tuệ và phục vụ quyền lợi củaquần chúng lao khổ.- Đạo luật công bằng là quan điểm chính mà ông đưa ra, đó là danh mục củaông và cũng là lý tưởng mà ông theo đuổi.Arixtốt (384- 322 trcn)

Ông vừa là nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhà triết học… Những tổng giá trị về lýluận mà ông để lại cho đời sau là rất đồ sộ, trong đó có những giá trị đã được tổngkết, phát triển một cách tài tình về nguồn gốc, bản chất hình thức, vai trò của Nhànước.- Ông khẳng định chính sự tồn tại của xã hội đã làm phát sinh sự bất công,mà chế độ CHNL là điển hình.- Việc tìm kiếm một phương án để thực hiện chế độ chính trị hoàn thiệnnhất được ông tính bàn một cách cụ thể trong việc phân loại các kiểu Nhà nước

theo hình thức của chúng. Ông đưa ra các tiêu chí để phân loại Nhà nước, mà theoông 2 tiêu chí sau đây là quan trọng nhất:+ Số lượng người cầm quyền trong Nhà nước.+ Mục đích thực hiện của nhà nước.Ông ủng hộ thể chế được gọi là chính thể. Theo ông thể chế này có khảnăng đại diện cho tầng lớp trung gian trong đời sống Nhà nước.một trong những quan điểm nổi bật là việc tổ chức thực hiện quyền lựcnhà nước. Ông chia quyền lực Nhà nước thành 3 bộ phận:+ Lập pháp+ Hành pháp+ Tư phápBa bộ phận này tạo nên cơ sở của mọi nhà nước và chính sự khác biệt củathể chế nhà nước quyết định phương thức tổ chức của mỗi bộ phận đó.Quan điểm của ông về sự phân quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước đượccác nhà tư tưởng tư sản đánh giá cao và phát triển rất mạnh về sau.- Ông cũng rất quan tâm đến pháp luật. Ông cho rằng trong pháp luật bộc lộbản chất nhà nước.- Ông đưa ra nhận xét thiên tài: Không phải ở đâu quyền con người cũnggiống nhéu.- Ông cũng phân loại hai loại pháp luật chung và riêng được xác lập trong

mỗi dân tộc.- Pháp luật chung cao hơn pháp luật riêng.- Ông cho rằng, công lý là sự tương quan của pháp luật với các công dânquốc gia.- Là người có quan điểm địa- chính trị, ông cho rằng các yếu tố lãnh thổ,khí hậu, điều kiện tự nhiên có tác động tới thiết chế nhà nước, tới việc tuân thủpháp luật.II. MỘT SỐ HỌC THUYẾT PHÁP LÝ THỜI KỲ LA MÃ CỔ ĐẠI1. một vài đặc điểm kinh tế, xã hộiNhà nước La Mã xuất hiện sớm và trải qua thời kỳ phát triển dài lâu với 3giai đoạn chủ yếu:- Giai đoạn công xã nông nghiệp lạc hậu- Giai đoạn cộng hòa chiếm nô- Giai đoạn đế chế.Lịch sử tồn tại của La Mã gắn liền với các cuộc đấu tranh gay gắt giữa các

tầng lớp xã hội tõ khi quan hệ thị tộc bộ lạc bước vào giai đoạn tan rã hoàntoàn.C. Mác đã từng có nhận xét “có khả năng hoàn toàn coi lịch sử bên trong của nhànước cộng hoà La Mã là cuộc đấu tranh của tiểu điền chủ với đại điền chủ, giữanô lệ và chủ nô, giữa quý tộc thị tộc và thương nhân giàu có”.2. một số tư tưởng pháp lý chủ yếu thời kỳ La Mã cổ đại:2.1. Tư tưởng chính trị của tầng lớp những người bị áp bức mà chủ yếu lànô lệ và nông dân bị phá sản.- Nẩy sinh trong các cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn vào thế kỷ thứ II, Trcn.- Những người khởi nghĩa đã hướng quần chúng vào mục đích thành lậpnhà nước công bằng.- cách thức nhà nước kết hợp các nguyên tắc dân chủ và quân chủ, theo đóngười đứng đầu nhà nước là một vị minh quân và cùng với hội đồng nắm quyềnlập pháp và hành pháp.

– Nhà vua và Hội đồng nhân dân thành lập lấy mục đích bảo vệ nhà nước vàquyền lợi những người nghèo khổ làm tiêu chí hoạt động.2.2. Hệ tư tưởng hướng tới mục đích bảo vệ quyền lợi giai cấp chủ nôthống trị.* Người đại diện xuất sắc là Xixêrông (106- 43 trcn).- Ông cho rằng khuynh hướng liên minh, kết nối để tạo ra nhà nước làkhuynh hướng một cách tự nhiên.- Nhà nước bảo vệ tài sản cho cá nhân con người trước nguy cơ bị xâmphạm.- Ông phân biệt 3 cách thức nhà nước chủ yếu: Nhà nước Dân chủ, quý tộcvà quân chủ.Ông phê phán Nhà nước Dân chủ, coi trọng nhà nước quân chủ là cách thứcnhà nước xấu xa nhất bởi vì không có gì ghê tởm sự độc đoán hơn đám đông,không có gì nguy hại hơn đám đông ngộ nhận mình là nhân dân.2.3. Là hệ tư tưởng của những nhà khắc kỷ, chủ trương tu dưỡng đạo đứchoặc chấp nhận định mệnh- Trước hết cho rằng chế độ chủ nô là chế độ bất biến, là vtrật tự có tínhthiên định.- Một hướng tư tưởng khác là phản kháng tiêu cực của các tầng lớp bị ápbức trong xã hội, họ tự an ủi mình bằng các giải pháp chính trị rất thụ động, điềuđó phản ánh một giai đoạn phát triển của Nhà nước La Mã khi những nguyên tắcdân chủ sơ khai bị xóa nhòa.2.4. Thể hiện trong các quan điểm lập pháp của các Luật gia.

– Họ có đóng góp lớn về lý luận Nhà nước và pháp luật mà đến nay vẫn cótổng giá trị.- Họ chia Luật thành hai hệ thống các quy phạm: Công pháp và Tư pháp.- Tư tưởng chủ đạo của Luật gia là tư tưởng pháp trị, lấy mục đích bảo vệchế độ tư hữu làm nền tàng.

2.5. Tư tưởng chính trị mang màu sắc tôn giáo:- Thể hiện trong giáo lý thiên chúa giáo.- Được khẳng định qua các học thuyết khẳng định tính thiên định của quyềnlực, ca ngợi quyền lực như là ý chúa.- Tư tưởng thần quyền có chiều hướng chi phối quyền lực của đế chế La Mã.- Cho rằng: Chế độ nô lệ do chúa định là trường tồn.- Sự giàu nghèo là do chúa tạo ra.

III. MỘT SỐ HỌC THUYẾT PHÁP LÝ THỜI KỲ TRUNG QUỐCCỔ ĐẠI:Trung Quốc là quốc gia có chế độ CHNL phát triẻn.Điểm nổi bật của chế độ CHNL ở Trung Quốc là các cuộc chiến tranh thôntính lẫn nhéu. Những cuộc chiến tranh đó diễn ra dài lâu, ác liệt.Cũng trong thời gian đó, ở Trung Quốc xuất hiện nhiều tư tưởng chính trịmà đến nay vẫn có tác động sâu sắc, đặc biệt các nước phương Đông.1, Hệ tư tưởng được đúc kết từ các quan điểm Đạo giáo của Lão Tử.- Ông chủ trương xây dựng một xã hội bình yên, thịnh trị.- Muốn vậy, người cầm quyền phải tỏ ra khiêm nhường không cần dùngbạo lực mà chỉ sử dụng Đạo để cảm hóa.- Ông chủ trương vô vi (không làm) bởi luật càng nhiều thì cướp càng tăng.- Biểu tượng của tính thụ động.2. Hệ tư tưởng Nho giáo:Hệ tư tưởng Nho giáo được thể hiện cơ bản và có hệ thống trong các quanđiểm của Khổng Tử.Khổng Tử (551- 479 trcn),Ông tên Khâm, Tự Trọng Ni, người nước Lỗ. Ông là một thầy học và có rẩtthường xuyên học trò. Những điểm chính trong hệ tư tưởng của ông phần lớn là do học trò

ghi chép và lưu truyền.

– Hệ tư tưởng của Khổng Tử được trình bày chủ yếu trong các cuốn Tứ thư,đây là quyển sách do học trò của ông sưu tầm, ghi chép lại, chính bản thân ôngcũng không nghĩ rằng những điều mình giảng cho học sinh lại trở thành một hệ tưtưởng và có tác động mãi về sau này.Quan điểm của Khổng Tử có khả năng được nhìn nhận, xem xét trên các góc độsau:- Về xã hội, ông kế thừa những quan niệm về số phận và cho rằng: sang,hèn là thiên định.Xã hội có hai loại người chủ yếu: quân tử và tiểu nhân, sự khác biệt về nhâncách và vị trí xã hội của 2 loại người này được ông trình bày một cách hệ thống vềbản chất.Ông coi trọng đức vị của người quân tử là nhà cầm quyền. Ông đánh giácao vai trò nhà cần quyền, ví họ như gió, còn tiểu nhân chỉ như cỏ, gió thổi quathì cỏ rạp xuống.- Ông cũng nói quân tử cần nghĩa, còn tiểu nhân cần lợi.- Từ đó, ông đề ra thuyết chính danh định phận, tức là khuyên con ngườita phải ứng xử đúng cương vị của mình.- Thuyết chính danh của người được thể hiện bằng khái niệm “Tam cương”tức là 3 cặp quan hệ chủ yếu, ràng buộc nhau trong xã hội, đó là:+ Quan hệ Vua – Tôi+ Quan hệ Cha – Con+ Quan hệ Vợ – ChồngTừ đó ông muốn xây dựng một thiết chế xã hội trật tự, là một trật tự xã hộicó ngôi thứ được định sẵn.Từ đó, ông nhấn mạnh đến năm điểm ứng xử chi phối toàn bộ đặc điểm xãhội, được gọi là Ngũ thường: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.Như vậy tư tưởng căn bản của Khổng Tử là Đức trị, tức là sử dụng đạo đức vàluân lý để điều chỉnh nhà nước và xã hội.- Đức trị theo ông là phủ nhận ý nghĩa của pháp chế. Ông quan niệm vềchính trị: chính là ngay thẳng, trị là săn sóc cho dân. Như vậy chính trị là săn sóccho dân trở nên ngay thẳng.- Việc lấy đạo đức làm tiêu chuẩn chi phối hành vi chính trị thực ra đã đưaông đến phủ nhận vai trò, vị trí của Luật pháp. Ông nói “Nếu nhà cầm quyềnchuyên sử dụng pháp chế, cấm lệnh mà dẫn dắt dân chúng thì dân sợ mà chẳngphạm pháp đó thôi, chớ họ chẳng biết hổ người. Vậy muốn dắt dân chúng, thì nhà

cầm quyền phải dùng lễ tiết đức hạnh thì chẳng những dân biết hổ thẹn mà lại còncảm hoá họ trở nên tốt lành”.- Từ năm (136 trcn) khi Hán Vũ Đế thừa nhận là tư tưởng chủ yếu thìKhổng giáo đã là hệ tư tưởng có ảnh hưởng lớn, là công cụ tinh thần để bảo vệchính thể.- Cần hiểu rằng, từ tư tưởng của Khổng Tử đã sinh ra các môn đệ, cácquan điểm như Mạnh Tử, Trang Tử…. Nhìn chung các tư tưởng này đều đặn phản ánhnhững điểm bản chất, cốt lõi của tư tưởng Khổng Tử, ngoài ra có sự biến thái đểphù hợp với thực tế.- Đặc biệt là tư tưởng của Khổng Tử có ảnh hưởng rất lớn đến xã hội TrungQuốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam.- mặc khác tư tưởng đó vẫn có một số Giảm: Thái độ yếu thế, thụ động, khôngdám đấu tranh.Câu 1. Nội dung học thuyết “Tam quyền phân lập” của MôngtexkiơTrả lời: Khái niệm Tam quyền phân lập lần đầu được đưa ra bởi nhà thống kêchính trị của người Pháp Môngtexkiơ. Khái niệm tam quyền phân lập sau nàyđược mở rộng cho cơ chế điều hành đất nước, với thường xuyên hơn hay ít hơn ba nhánhcầm quyền.Tam quyền phân lập là một thể chế chính trị với ba cơ quan lập pháp, hành phápvà tư pháp được tổ chức song song với nhéu, và qua đó kiểm tra, giám sát hoạtđộng lẫn nhéu. Theo thể chế này, không một cơ quan nào có quyền lực tuyệt đốitrong sinh hoạt chính trị của quốc gia.Theo Môngtexkiơ, lập pháp là quyền làm ra luật, sửa đổi và huỷ bỏ luật, hành

pháp là quyền chăm sóc an ninh, đối nội, đối ngoại, lãnh đạo dân chúng thời bìnhtương đương thời chiến trong khuôn khổ luật pháp ban hành. Tư pháp là quyền trừngphạt người phạm tội và phân xử khi có tranh tụng giữa các cá nhân. Mỗi cơ quanhéy mỗt bộ phận của một cơ quan được quyền hoạt động trong lĩnh vực của mình,không có quyền trong lĩnh vực khác, nhưng có quyền ngăn chặn cơ quan khác.Nội dung tư tưởng học thuyết “tam quyền phân lập” của Môngtexkiơ.Tiếp thu và phát triển tư tưởng về thể chế chính trị tự do, chống chuyên chế,Môngtexkiơ xây dựng học thuyết phân quyền, đây là nội dung tư tưởng chủ yếutrong học thuyết chính trị – pháp lý của Môngtexkiơ, với mục đích tạo dựng nhữngthể chế chính trị, đảm bảo tự do cho các làm công nhân.Theo ông, tự do chính trị của công dân là quyền mà người ta có khả năng làm mọi cáimà pháp luật cho phép. Pháp luật là thước đo của tự do. cũng như Arixxtot vàJ.Locco, Môngtexkiơ cho rằng, thể chế chính trị tự do là thể chế mà trong đó,quyền lực tối cao được phân thành ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp.- Lập pháp: biểu hiện ý chí chung của quốc gia. Nó thuộc về toàn thể nhân dân,được trao cho hội nghị đại biểu nhân dân (Quốc hội).- Hành pháp: là việc thực hiện luật pháp đã được thiết lập. Quyền này không đượcthực hiện bởi những thành viên của Quốc hội.- Tư pháp: là để trừng trị tội phạm và giải quyết sự xung đột giữa các cá nhân. Cácthẩm phán được lựa chọn từ dân và xử án chỉ tuân theo pháp luật.Tư tưởng phân quyền của Môngtexkiơ là đối thủ đáng sợ của chủ nghĩa chuyênchế phong kiến, và có thể khẳng định ông là người đã phát triển và hoàn thiện họcthuyết: “tam quyền phân lập”.Môngtexkiơ kịch liệt lên án chế độ quân chủ chuyên chế ở Pháp lúc bấy giờ. Chếđộ quân chủ chuyên chế là một tổ chức quyền lực tồi tệ, phi lý vì: nhà nước tồn tại

vốn biểu hiện của ý chí chung, nhưng trong chế độ chuyên chế nó lại biểu hiện ýchí đặc thù – chế độ chuyên chế với bản chất vô pháp luật và mong muốn pháp luật.Môngtexkiơ nhận thấy pháp luật là trái với bản chất của nó; gắn với bản chất chế

độ chuyên chế là tình trạng lạm quyền. Vì vậy, việc thanh toán hiện tượng lạmquyền chỉ có khả năng là đồng thời, là sự thanh toán chế độ chuyên chế. TheoMontesquieu, một khi quyền lực tập trung vào một mối, kể cả một người hay mộttổ chức, thì nguy cơ chuyên chế vẫn còn.Theo thuyết “tam quyền phân lập”, quyền lực nhà nước được chia làm 3 và giaocho mỗi hệ thống cơ quan khác nhau đảm trách: quyền lập pháp giao cho Nghịviện, quyền hành pháp giao cho Chính phủ, quyền tư pháp giao cho Toà án.Theo Môngtexkiơ, tự do chỉ có khả năng có được khi pháp luật được tuân thủ nghiêmngặt. Muốn vậy phải phân quyền, vì nếu quyền lực trong tay một cá nhân hay mộtcơ quan sẽ phát sinh độc đoán, chuyên quyền. Muốn khắc phục phải dùng quyềnlực Giảm và kiểm soát quyền lực. Khi quyền lực nhà nước được phân chia làm 3bộ phận do 3 cơ quan khác nhéu nắm giữ và bộ máy phải thiết chế sao cho baquyền đó ở thế đối trọng nhau và không có cơ quan nào đứng trên 3 cơ quan đó.Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật, Môngtexkiơ đã lập luận tinh tế và chặt chẽtính tất yếu của việc tách bạch các nhánh quyền lực và khẳng định: “Trong bất cứquốc gia nào đều đặn có ba thứ quyền: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều phùhợp với công pháp quốc tế và quyền thi hành những điều trong luật dân sự”. Ta cóthể nhận ra sự tiến bộ trong tư tưởng phân quyền của Môngtexkiơ so với tư tưởngcủa Locke, khi tách quyền lực xét xử – quyền tư pháp ra độc lập với các thứ quyềnkhác.Từ đó, Môngtexkiơ chủ trương phân quyền để chống lại chế độ chuyên chế, thanhtoán nạn lạm quyền, để chính quyền không thể gây ra hại cho người bị trị và đảm bảoquyền tự do cho nhân dân. Môngtexkiơ đã viết: “Khi mà quyền lập pháp và hànhpháp nhập lại trong tay một người hay một Viện Nguyên Lão, thì sẽ không có gì làtự do nữa, vì người ta sợ rằng, chính ông ta hoặc viện ấy chỉ đặt ra những luật độctài để thi hành một cách độc tài. Cũng không có gì là tự do nếu như quyền tư phápkhông tách rời quyền lập pháp và hành pháp. Nếu quyền tư pháp được nhập vớiquyền lập pháp, thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống, quyền tự do của côngdân; quan toà sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền tư pháp nhập lại với quyền hànhpháp, thì toà sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp. Nếu một người hay một tổ chức củaquan chức, hoặc của quý tộc, hoặc của dân chúng, nắm luôn cả ba thứ quyền lựcnói trên thì tất cả sẽ mất hết”.Tóm lại, theo Môngtexkiơ, cách thức tổ chức nhà nước của một quốc gia là: “Cơquan lập pháp trong chính thể ấy gồm có hai phần, phần này ràng buộc phần kia.Cả hai phần sẽ bị quyền hành pháp ràng buộc, và quyền hành pháp sẽ bị quyền lậppháp ràng buộc” .Tư tưởng của Môngtexkiơ tuy vẫn còn điểm hạn chế là bảo thủ phong kiến, đòihỏi đặc quyền cho tầng lớp quý tộc. Nhưng nó vẫn là nền móng cho tư tưởng phânchia quyền lực sau này, có tác động sâu sắc đến những quan niệm sau này về tổchức nhà nước, cũng như thực tiễn tổ chức của các nhà nước tư bản. Ví dụ như, đasố Hiến pháp của các nhà nước tư bản Hiện tại, đều đặn khẳng định nguyên tắc phânquyền như một nguyên tắc cơ bản của tổ chức quyền lực nhà nước. Như điều 10Hiến pháp Liên bang Nga quy định: “Quyền lực nhà nước ở Liên bang Nga đượcthực hiện dựa trên cơ sở của sự phân quyền thành các nhánh lập pháp, hành phápvà tư pháp. các bộ phận của các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp phải độclập”.Điều 1 của Hiến pháp Ba Lan cũng trực tiếp khẳng định việc tổ chức bộ máy nhànước theo nguyên tắc phân chia quyền lực thành ba quyền: lập pháp, hành pháp, tưpháp.Tiếp nối Montesquieu, J.J. Rousseau cùng với tác phẩm “Bàn về khế ước xã hội”,đã đưa ra những quan điểm rất mới mẻ và tiến bộ về sự phân chia quyền lực trong

Mọi Người Cũng Xem   Đại lý là gì? Các loại hình đại lý và đặc điểm của chúng

tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.Rousseau (1712- 1778) chủ trương nêu cao tinh thần tập quyền, tất cả quyền lựcnhà nước nằm trong tay cơ quan quyền lực tối cao, tức toàn thể công dân trong xãhội. Nhưng ông lại cho thấy, phân chia quyền lực nhà nước thành quyền lậppháp và quyền hành pháp, giao chúng vào tay cơ quan quyền lực tối cao và chínhphủ là hình thức hợp lý nhất, để đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả cho nhà nước,cũng như ngăn ngừa được xu hướng lạm quyền. ngoài ra, ông còn nêu lên vai trò

quan trọng của cơ quan tư pháp trong việc đảm bảo cho sự hoạt động ổn định củanhà nước, tương đương cho sự cân bằng giữa các vế cơ quan quyền lực tối cao, chínhphủ và nhân dân. Nhưng cách phân quyền của Rousseau không giống với Lockevà Montesquieu, bởi ông luôn khẳng định một điều duy nhất rằng: “những bộ phậnquyền hành được chia tách ra đều đặn phụ thuộc vào quyền lực tối cao” và “mỗi bộphận chỉ thực hiện ý chí tối cao đó” mà thôi.1.2.3. Ưu và nhược điểm của học thuyết “tam quyền phân lập”- ưu điểm:Ưu điểm quan trọng nhất của thuyết “tam quyền phân lập” là tránh được sựchuyên quyền, độc tài trong thực hiện quyền lực nhà nước. Đưa xã hội loài ngườilên một bước mới trong quản lý và điều hành đất nước.Nội dung cốt lõi của học thuyết này cho rằng, quyền lực nhà nước luôn có xuhướng mở rộng, tự tăng cường vai trò của mình. Bất cứ ở đâu có quyền lực là xuấthiện xu thế lạm quyền và chuyên quyền, cho dù quyền lực ấy thuộc về ai. Do vậy,để đảm bảo các quyền tự do cơ bản của công dân, ngăn chặn các hành vi lạmquyền của các chủ thể nắm giữ quyền lực nhà nước thì phải thiết lập pháp chếnhằm giới hạn quyền lực nhà nước. Cách hấp dẫn nhất để chống lạm quyền là giới hạnquyền lực bằng các công cụ pháp lý và cách thực hiện không phải là tập trungquyền lực, mà là phân chia nó ra.Muốn hạn chế quyền lực nhà nước thì trước hết phải phân quyền, và sau đó phảilàm cho các nhánh quyền lực đã được phân chỉ được phép hoạt động trong phạmvi quy định của pháp luật.- Nhược điểm:Nhược điểm chủ yếu của thuyết “tam quyền phân lập” là do phân quyền nên dễdẫn tới sự tranh chấp, kìm hãm lẫn nhéu giữa các bộ phận nhà nước, nhằm giànhquyền lợi nhiều hơn trong thực thi quyền lực nhà nước. Nó cũng tạo nên sự hạn chếđồng bộ, thống nhất và gắn kết giữa các cơ quan quyền lực nhà nước.Tam quyền phân lập suy cho cùng cũng chỉ là sự chia sẻ quyền lực của các nhà tưbản với nhéu và cùng cai trị giai cấp lao động. Nó không thể hiện được sự làm chủcủa nhân dân trong bộ máy nhà nước, trong điều kiện hoàn hảo thì 3 cơ quan đó(lập pháp, hành pháp, tư pháp) vận hành một cách độc lập, tách biệt hoàn toàn.Còn trong khó khăn không hoàn hảo (áp dụng không triệt để) thì cho thấy sự lạmquyền đặc biệt thấy rõ nhất là ở Hoa Kỳ, Tổng thống đang dần dần “lấn sân” củaQuốc hội trong vấn đề lập pháp.Như vậy dù áp dụng triệt để hay không thì “tam quyền phân lập” vẫn có thường xuyênkhiếm khuyết trong quy trình dân chủ, nên không thể tạo ra được một nền dân chủtriệt để được.Như vậy, dù áp dụng triệt để hay không thì “tam quyền phân lập” vẫn có nhiềukhiếm khuyết trong quá trình thực hiện dân chủ, nên không thể tạo ra được mộtnền dân chủ triệt để được.Câu 2. Nội dung, bản chất Nhà nước Pháp quyền và Nhà nước pháp quyền XHCNViệt Nam.hiện nay, tổ chức bộ máy nhà nước tại Việt Nam, về bản chất vẫn bảo đảm tínhtập quyền xã hội chủ nghĩa, song trên thực tế đã vận dụng những hạt nhân hợp lýcủa thuyết phân quyền, nghĩa là nhấn mạnh đến khía cạnh phân công quyền lực:“Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quannhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Đây là

bước phát triển trong nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về nguyên tắc tậpquyền xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới.Việc đầu tư thống kê và khẳng định rất cần thiết xây dựng nhà nước pháp quyềnchứng tỏ sự phát triển mới trong tư duy chính trị của Đảng, Nhà nước ta trên cơ sởthực tiễn đới sống chính trị.Học thuyết về Nhà nước pháp quyền ra đời từ thế kỉ XIX với một quy trình thăngtrầm. Ở những nước XHCN thời kỳ đầu thì chỉ đề cập đến Nhà nước chuyên chính vôsản, cho đến 1988, Liên Xô mới bắt đầu đề cập đến khái niệm “Nhà nước pháp quyềnXHCN”. Còn ở Việt Nam, khái niệm Nhà nước pháp quyền đã được nguyên tổngbí thư Đỗ Mười nói đến đầu tiên trong một bài phát biểu vào năm 1991 và chínhthức được sử dụng trong các văn bản năm 1994.

Về nhà nước pháp quyền, thường xuyên nhà khoa học đã khẳng định sự hình thành và tồntại của nó gắn liền với sự phát triển dân chủ. Nó chính là sự đảm bảo pháp lý chomột nền dân chủ đích thực.Nhà nước pháp quyền có những đặc trưng mang tính thường nhật sau đây:- Trước hết đó là nhà nước hợp hiến, hợp pháp; nhà nước quản lý xã hội bằngpháp luật, trong đó các đạo luật chiếm ưu thế trong hệ thống pháp luật.Pháp luật của nhà nước pháp quyền là pháp luật chứa đựng tính nhân văn, nhânđạo, pháp luật vì con người, vì số đông trong xã hội, pháp luật phải thể hiện đượcý chí cộng đồng dân tộc, quốc gia, không phải ý chí của một nhóm người, một cánhân hay một tập đoàn nào đó.- Nhà nước, các cơ quan của nhà nước đặt mình dưới pháp luật, lệ thuộc vào phápluật. Trong mỗi quan hệ giữa nhà nước với pháp luật thì “tính trội” thuộc về phápluật, ở khía cạnh này pháp luật như là công cụ, phương thuận tiện để Giảm quyền lựcnhà nước, Giảm công quyền.- Nhà nước pháp quyền là nhà nước trong đó các quyền tự do của công dân phảingày càng được mở rộng được bảo đảm, bảo vệ bằng cơ chế pháp luật, bằng cáctiền đề, khó khăn về kinh tế – xã hội, bằng tổ chức nhà nước. Như vậy, pháp luật làcông cụ, phương thuận tiện ghi nhận, bảo vệ các quyền công dân.Nhà nước pháp quyền là nhà nước mà trong đó thiết lập mối quan hệ trách nhiệmqua lại giữa công dân với nhà nước với công dân.- Trong nhà nước pháp quyền vai trò của Toà án được đề cao, các nhánh quyền lựclập pháp và hành pháp phải độc lập một cách tương đối, phối hợp với nhéu và phảikiềm chế được nhéu.Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được xây dựng trên cơ sở tát cả quyền lựcnhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nướctrong việc thực hiện các quyền lập pháp,hành pháp, tư pháp. Nhà nước pháp quyềnXHCN Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam – Đảng củagiai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam. Đây là những vấn đề mang tínhnguyên tắc, có tính chính trị- xã hội hoạch định cho việc xây dựng Nhà nước phápquyền XHCN Việt Nam trên thực tế.Về mặt nhận thức có thể nói rằng, ngày nay nghiên cứu về Nhà nước pháp quyềnở Việt Nam đã bước qua giai đoạn trả lời câu hỏi nhà nước pháp quyền là gì? Câuhỏi cần có lời giải đáp Hiện tại là: chuyển sang giai đoạn xây dựng Nhà nướcpháp quyền phải làm như thế nào? Quốc hội, Chính phủ, Toà án, Viện kiểm sátphải tổ chức và hoạt động như thế nào, phải làm gì để xây dựng Nhà nước phápquyền XHCN Việt Nam? Tức làm thế nào để vẫn giữ vững được định hướngXHCN mà vẫn có một nhà nước pháp quyền mạnh?mặc khác, Nhà nước pháp quyền của ta chưa phát triển kíp so với đòi hỏi trongtính đồng bộ với kinh tế thị trường, chính vì vậy mà có rất rất nhiều lý do xã hội bứcxúc phát sinh (quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu, vi phạm dân chủ,…. Ta thườnggọi là những căn bệnh của cơ chế) tạo nên lực cản của sự nghiệp đối mới mà Đảngvà chính bản thân Nhà nước chưa và không thể tự giải quyết được nếu không cósự điều chỉnh về thể chế, cơ chế. Phải chăng, chúng ta chưa mạnh dạn nhìn nhận

vấn đề từ bản chất của nó? Phải chăng chúng ta đã đánh đồng bản chất và tính chấtcủa nhà nước? Bản chất của Nhà nước là Nhà nước dân chủ XHCN, còn phápquyền là tính chất, là trạng thái của thể chế dân chủ đó. Cái bản chất là cái bấtbiến, không thay đổi ngay; còn tính chất, trạng thái tinh thần linh động, mềm dẻo để luôntương tích và bảo vệ vững chắc cho cái bất biến ấy. Nếu những cải cách hànhchính, đổi mới hệ thống chính trị, hoàn thiện hệ thống pháp luật … chưa đủ mạnhđể Nhà nước pháp quyền phát huy sức mạnh hiệu quả thực tế của nó, thì có khả năngphải tìm hướng giải quyết khác? Cơ chế phân quyền XHCN phải chăng đã đến lúccần được thiết lập, từng bước thử nghiệm có giới hạn để làm cho Nhà nước ta vẫngiữ được bản chất là nhà nước dân chủ XHCN, nhưng phải là nhà nước phápquyền đủ sức mạnh vận hành có hiệu lực, hiệu quả.Vấn đề cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền là pháp quyền ở trên nhà nước, cácnhánh quyền lực “phân lập” để kiểm tra nhau, cơ quan nhà nước và công chức chỉđược làm những điều luật pháp cho phép, còn dân thì được phép làm tất cả nhữngđiều gì mà luật pháp không cấm; và để đảm bảo dân uỷ quyền mà không mất

quyền thì công việc của nhà nước và các bộ phận công quyền phải công khai vàminh bạch trước dân, dân có quyền tham gia vào việc xây diựng pháp luật, giámsát và kiểm soát quyền lực nhà nước. Một nhà nước pháp quyền như thế, lại đượchoạch định bởi đường lối chính trị của Đảng Cộng sản cầm quyền, thì sức mạnhưu trội của sự kết hợp lý tưởng chính trị tốt đẹp và kỹ thuật pháp lý cao, sẽ là mộtđảm bảo chắc chắn nhất cho sự vững mạnh của một nhà nước pháp quyền XHCN.Câu 3.Tư tưởng Tà giáo là gì?Phong trào tà giáo thực chất là sự phản kháng của quần chúng nhân dân lao độngnhằm chống lại sự áp bức bóc lột của thần quyền vào thời trung cổ.Tà giáo thời trung cổ, theo Ph.Ăngghen, là sự đối lập có tính cách mạng chốngphong kiến và giáo hội. Phong trào Tà giáo đầu tiên được bắt đầu vào thế kỷ X ởBungari và sau đó chia thành 2 giai đoạn phát triển: giai đoạn từ thế kỷ thứ X đếnthế kỷ XIII và giai đoạn XIV đến XV.Phong trào tà giáo là sự phản kháng cách mạng của nhân dân lao động chống lạisự áp bức bóc lột của nhà thờ và giáo hội. Ở Bungari có các nhà truyền giáo nhưnglại dám mạnh dạn tuyên chiến, kêu gọi đánh đổ giáo hội, công khai tuyên bố cămthù vua chúa. Họ huy động chúa và giáo hội tương đương mọi kẻ nô lệ không đượcđáp ứng cho các ông chủ, cho giai cấp thống trị.- Dưới ánh sáng của học thuyết Thánh thiện, vào thế kỷ X- XI đã xuất hiện cácphong trào Tà giáo ở Xécbi, Nga, Ucraina. Học thuyết thánh thiện có ảnh hưởngđặc biệt to lớn đối với các tín đồ ở Italia, Pháp và một số nước khác ở châu Âu- Đến lúc này, dân chúng ở phía Bắc Italia và phía Nam nước Pháp thường xuyên lần đãtẩy chay và tuyên bố không còn chịu ảnh hưởng của Giáo hội.Để chống lại phong trào tà giáo, nhà thờ đã tổ chức hàng loạt cuộc thập tự chinh,đàn áp rất dã man và đầu thế kỷ XIII đã lập tòa án Giáo hội để xét xử những ngườichống giáo hội.- Vào cuối thế kỷ XIV, phong trào Tà Giáo lại bùng lên, với hai hình thức: Tà giáothị dân và Tà giáo nông dân.Tóm lại, tà giáo là những tín đồ thiên chúa giáo tiến bộ có nội dung tư tưởng thểhiện trên 3 điểm: Tách giáo hội ra khỏi phong kiến địa chủ; giải tán tòa án giáohội; yêu cầu đưa tất cả các hoạt động thiên chúa giáo về với nhà thờ.Câu 4. Học thuyết chủ quyền nhân dân của J.J.Rutxo và ý nghĩa của học thuyết đótrong việc xây dựng Nhà nước pháp quyềnJ.J.Rutxo sinh năm 1712 tại Geneve, ông là một nhà văn, một triết gia, một nhà tưtưởng vĩ đại, nhà biện chứng lỗi lạc của thời kỳ phục hưng.Bằng tác phẩm “Khế ước xã hội” ông ủng hộ tư tưởng dân chủ, có ảnh hưởng lớnđến cách mạng Pháp, được các nhà lãnh đạo cách mạng Pháp coi là anh hùng.Ông đại diện cho tư tưởng thị dân, đại diện cho quyền lợi của người bình dân.Theo J.J.Rutxo con người phát sinh vốn là tự do nhưng những quy tắc của xã hội, sự

bó buộc của các định chế chính trị và kinh tế đã đưa con người vào vòng xiềngxích, làm cho con người ngày càng xa rời tự do thuở ban sơ của mình. KhiJ.J.Rutxo nói rằng “con người sinh ra tự do, nhưng rồi đâu đâu con người cũngsống trong xiềng xích” thì lời khẳng định này có nghĩa là con người phải được tựdo. Tự do theo đó không có nghĩa là con người có thể làm bất cứ điều gì mìnhmuốn, mà có nghĩa mỗi người là một yếu tố trong một ý chí chung, đời sống củanó là một phần của cuộc sống chung.Ông không chỉ đơn thuần phê phán các thiết chế phong kiến mà là bác bỏ hoàntoàn hệ thống chính trị pháp quyền áp bức người dân.Ông ủng hộ hình thức các giai cấp lao khổ kết liên với nhéu để dùng sức mạnhchung bảo vệ mọi thành viên.Ông chủ trưởng có khế ước xã hội để ràng buộc mọi thành viên với nhéu. Các điềukhoản các khế ước xã hội quy vào một điểm duy nhất: mỗi thành viên từ bỏ quyềnriêng của mình để gộp hết vào quyền chung.Cống hiến vĩ đại của ông là ở chỗ ông là người đầu tiên thấy được sự khác biệt xãhội công dân nẩy sinh cùng với hế độ tư hữu và Nhà nước.Ông khẳng định rằng, chủ quyền nhân dân là một thực thể tập thể, nó không thểđược đại diện bởi cả người nào đó mà là quyền lực được tiến hành bởi ý chíchung.

Mọi Người Cũng Xem   Một số thiết bị phòng Lab tiêu biểu cần phải có - Trung Sơn

Ý nghĩa của học thuyết đó trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền:Từ tư tưởng về chủ quyền nhân dân, J.J.Rutxo tìm đến giải pháp chính trị về mộtchính thể cộng hòa. Quyền lập pháp luôn thuộc vè nhân dân. Từ đó J.J.Rutxo nghĩrằng với một điều kiện như vậy nền quân chủ chuyển sang nền cộng hòa. J.J.Rutxodành thiện cảm cho chính thể cộng hòa, là hình thức cầm quyền mà theo ông là tốtnhất, trong đó các quan chức do nhân dân bầu ra, mà nhân dân thì chắc chắn sailầm sẽ ít hơn nhà vua. Việc thành lập chính quyền hành pháp khác hẳn việc thànhlập chính quyền lập pháp: chính quyền lập pháp được thành lập do “khế ước xãhội” còn chính quyền hành pháp được thành lập bởi văn bản của quyền lực lậppháp có chủ quyền. Chính tình trạng này quy định vai trò phụ thuộc của Chính phủ vàolập pháp. J.J.Rutxo cũng đề nghị thiết lập tòa án để bảo vệ pháp luật và quyền lậppháp. Như vậy có thể nhận thấy J.J.Rutxo có ý tưởng về chính thể cộng hòa đạinghị, chính thể cộng hòa đại nghị trong tư tưởng của J.J.Rutxo có điểm xuất pháttừ quan niệm về bản tính con người là tự do. Chính thể này theo J.J.Rutxo là phúcđáp một cách hoàn hảo nhất về tự do của con người, vì nó thể hiện ý chí chung,thể hiện chủ quyền nhân dân. Những lập luận về tự do và khế ước xã hội củaJ.J.Rutxo có khả năng minh chứng cho kết luận này.Học thuyết chính trị của J.J.Rutxo tràn đầy tính cách mạng, nếu một nhà nướcđược sản sinh ra từ học thuyết “khế ước xã hội” thì mọi người sẽ có khả năng bãi bỏ khinó lạm quyền. Đối với J.J.Rutxo một chính thể cộng hòa (đại nghị) phúc đáp đượcnhu cầu về khế ước xã hội và đảm bảo được tự do cho mọi ngườiJean-Jacques Rousseau ra đời trong Thời kỳ Khai sáng (Enlightenment) trong thế kỷ 18 của Âu châu.Tư tưởng và học thuật trong Thời kỳ Khai sáng chú trọng về lý tính (rationalism) và thực nghiệm.Trên căn bản duy lý và thực nghiệm, các triết gia thời kỳ này phủ nhận lề lối tư duy truyền thống vềxã hội, tôn giáo, chính trị, và đề cao vai trò của khoa học. Họ đã từng tuyên bố: khoa học sẽ cứu chúngta. Trong bài luận văn đoạt giải thưởng của Hàn lâm viện Dijon năm 1749, Rousseau đã tạo cho mìnhmột tư thế riêng khi đưa ra những lập luận bác bỏ toàn bộ những tư duy thời thượng bấy giờ. Ông lậpluận rằng càng văn minh thì đạo đức càng băng hoại, khoa học không cứu rỗi được con người, và “tiếnbộ” chỉ là ảo tưởng, văn minh hiện đại không làm con người hạnh phúc hay đạo đức hơn. “Hạnh phúcchỉ đến với con người trong tình trạng thiên nhiên,” và đức hạnh chỉ xảy ra trong một xã hội dễ dàng,nơi con người sống cuộc sống đạm bạc, chân chất. Những phát minh của khoa học, những sáng tạo củanghệ thuật, theo ông, chỉ là những “chùm hoa phủ lên trên xiềng xích trói buộc con người, khiến họquên đi sự tự do nguyên thủy có từ lúc mới phát sinh, và quên đi mất là đang cam thân làm nô lệ trongkiếp sống văn minh.”[1]. Về nơi này, tư tưởng của Rousseau khá gần với Mặc Tử, nhà tư tưởng cổ

Trung Hoa, người chủ trương thuyết công lợi và lên án các sự xa xỉ, xa hoa; ngay cả âm nhạc cũng bịMặc tử lên án là vô bổ, làm sa đọa con người (trong khi Nho gia có cả Kinh Nhạc trong Ngũ Kinh).Mặc dù tư tưởng của Rousseau trực tiếp phản bác tư duy đương thời, Hàn lâm viện Dijon vẫn trao giảinhất cho luận đề của ông. Đây cũng là nền tảng tư tưởng của Rousseau để từ đó ông viết nên tác phẩmbất hủ Khế ước Xã hội.Khế ước Xã hội gồm 4 quyển, mỗi quyển có từ mười tới mười lăm chương. Trong lời mở đầuRousseau viết: “Với bản chất con người như ta biết, và với tính chất có khả năng xẩy ra của luật pháp, tôimuốn tìm xem trong trật tự của một xã hội dân sự có thể có một luật lệ cai trị nào cho chắc chắn vàhợp tình hợp lý…” Trong cuộc hành trình này, Rousseau cũng như các nhà tư tưởng trước ông nhưThomas Hobbes và John Locke đều đặn bắt đầu từ nguyên thủy, nhận diện con người trong trạng thái thiênnhiên của nó. Mở đầu chương thứ nhất Rousseau viết: “Con người phát sinh được tự do, nhưng ở đâunó cũng bị xiềng xích.” Đối với Rousseau, tự do là điều kiện thiết yếu để con người là một con người.Trong trạng thái thiên nhiên mỗi con người là chủ của chính mình, nhưng từng cá nhân một không thểchống chỏi với thiên nhiên để tự tồn mà phải cùng chung sống với nhau hầu có đủ sức để sống còn.Từ xã hội sơ khai đầu tiên là gia đình, con người quần tụ lại thành những cộng đồng lớn hơn, nhưngtrong cộng đồng lớn hơn này cần phải có luật lệ để điều hành trật tự sao cho phúc lợi và tự do của mỗingười vẫn được bảo đảm. Câu hỏi được đặt ra là ai sẽ là “người” đặt ra những luật lệ này khi mỗi cánhân đều đặn bình đẳng như nhau? Rousseau phủ nhận mô thức chính quyền quân chủ do Grotius vàHobbes đề ra, và lý giải rằng một xã hội dân sự hợp lý, hợp tình chỉ có khả năng được tạo nên bởi sự thỏathuận của mọi người tham gia. Hay nói một cách khác bởi một khế ước xã hội do mọi người cùng lậpnên và mọi người phải tuân thủ. Rousseau viết: “Cái mà con người mất đi khi chấp nhận khế ước xãhội là sự tự do thiên nhiên và sự vô giới hạn trong những việc anh ta muốn làm và muốn giữ khichiếm được; bù lại cái mà anh ta nhận được là sự tự do trong văn minh và quyền sở hữu chính đángnhững gì mà anh ta có.” “Người” có thẩm quyền làm ra luật để cai trị một cộng đồng lập nên bởi khế

ước xã hội, theo Rousseau, không ai khác hơn là tất cả mọi người đồng trao quyền đó cho một conngười nhân tạo gọi là “Hội đồng Tối cao” (sovereign) bao gồm tất cả mọi người; con người nhân tạonày khi được thành hình bởi khế ước xã hội có cuộc sống và ý chí riêng. Ý chí riêng của con ngườinhân tạo này là ý chí của cả tập thể, gọi là “ý chí tập thể” (general will) chỉ nhằm đạt tới cái tốt chungcho cả cộng đồng, chứ không phải là ý chí của tất cả mọi thành viên (will of all) bao gồm ý chí vàquyền lợi riêng tư của mỗi thành viên khác hơn quyền lợi của tập thể.Trong chương 6 (quyển I) luận về Khế ước xã hội, Rousseau đã phân định con người nhân tạo thànhthường xuyên loại khác nhau tùy theo trạng thái vận hành của tác nhân này, từ Cộng đồng dân chúng (city)–có lẽ Rousseau theo các tác giả thời trước muốn nói đến các thị-quốc (city-state) của Hy lạp; ngày nayngôn từ này không còn được dùng nữa, đến Cộng hòa (Republic) hay là Cơ cấu chính trị (bodypolitic), cho đến Hội đồng tối cao [2] khi hoạt động và Nhà nước (State) khi không vận hành. ChínhRousseau cũng thú nhận là phương pháp phân định như vậy dễ làm người đọc thời đó nhầm lẫn, chưa kể đếnngười đọc thời nay khi các thuật ngữ trên đã được hiểu và định nghĩa khác đi rất nhiều. Điểm quantrọng Rousseau muốn nhấn mạnh là khi khế ước xã hội được lập thành, tức khắc nhà nước được khaisinh, và chủ quyền tối thượng của nhà nước nằm trong tay nhân dân, những người lập nên nhà nướcnày, chứ không nằm trong tay chính quyền (chương7, q. I). Các thành viên của nhà nước trở thànhcông dân. Hội đồng tối cao, như đã trình bày, chỉ là một khái niệm trừu tượng, phản ảnh ý chí tập thểqua luật pháp. Ý chí tập thể, Rousseau lý giải trong Chương 4 (q. II), phải “mang tính tổng quát trongmục đích tương đương trong bản chất, và phải phát xuất từ tất cả để áp dụng cho tất cả.” Từ nhận địnhnày, Rousseau kết luận là không một ai, kể cả vị quân vương, có khả năng đứng trên pháp luật.mặc khác, Hội đồng tối cao chỉ là một tác nhân trừu tượng, cần có một thực thể để làm luật và thihành pháp luật. Rousseau nhấn mạnh là cần có hai cơ quan tách biệt hoàn toàn để phụ trách hai nhiệmvụ này. Chính quyền, còn gọi là cơ quan hành pháp, là “cơ quan trung gian làm nhiệm vụ truyền thônggiữa người dân và Hội đồng tối cao, và thi hành luật pháp tương đương bảo đảm tự do dân sự và chínhtrị.” Chính quyền, hay người đứng đầu guồng máy chính quyền, do đó, chỉ là những nhân viên thừahành, có ăn lương, nhân danh Hội đồng tối cao dùng quyền lực được trao cho để thi hành pháp luật.Quyền lực này có khả năng bị Hội đồng tối cao giới hạn hay thu hồi bất cứ khi nào. Đó là trên lý thuyết, trênthực tế, Rousseau nhận thấy có một vấn nạn là khi nắm giữ quyền lực trong tay, chính quyền dễ cókhuynh hướng lạm dụng quyền hành, và khi chính quyền càng cần nhiều quyền lực để điều hành thìchủ quyền tối thượng cũng cần có quyền lực tương đương để kềm chế chính quyền khỏi lạm dụngquyền hành (chương 1, q. III). Thêm vào đó, quyền lập pháp là quyền riêng biệt, chỉ có khả năng nằm trongtay của Hội đồng tối cao–bao gồm tất cả mọi công dân mà chỉ nghĩ đến cái tốt chung cho cả tập thể.Đó chính là vấn nạn vì để cho luật pháp thể hiện cái tốt chung cho cả tập thể, quyền lợi riêng tư phảiđược gạt bỏ ra ngoài mỗi cá nhân. Rousseau viết: “cần phải có một người có sự thông minh siêu tuyệtđể có thể thấu hiểu những nhiệt tình của con người mà vẫn không bị tác động của thất tình, lục dục,một con người mà hạnh phúc độc lập với con người nhưng lại quan tâm đến hạnh phúc của con người,một con người mà sẵn sàng làm việc ở đời này cho kết quả ở đời sau” để làm luật, và Rousseau kếtluận, chỉ có Thượng đế mới là một con người như vậy. Cả hai vấn nạn về quyền hành pháp và lậppháp Rousseau không có câu trả lời, nhưng cả hai vấn nạn này sẽ được các nhà sáng lập ra Hiệp chúngquốc Hoa kỳ giải quyết trong Luận cương về chế độ liên bang, khi soạn thảo hiến pháp cho đất nướccủa họ.Trong quyển III, Rousseau luận về các cách thức chính quyền. Khi Hội đồng tối cao đặt chính quyềnvào trong tay của tất cả công dân hay đa số công dân thì chính quyền đó được gọi là dân chủ; khichính quyền nằm trong tay của một thiểu số, nghĩa là thường dân đông hơn quan chức, chính quyền đóđược gọi là quý tộc; khi chính quyền nằm trong tay một cá nhân, chính quyền đó được gọi là quânchủ, và cuối cùng là chế độ hỗn hợp của các chế độ trên. Những ngôn từ này Rousseau dùng khácvới nghĩa chúng ta hiểu ngày nay. Ông cũng phân tích các ưu và khuyết điểm của từng thể chế. Dânchủ, theo Rousseau, chỉ thích hợp cho một nước nhỏ khi tất cả mọi người đều tham gia nghị luậnchính sách (nhận định này ngày nay không đúng nữa). Quý tộc lại được chia làm ba loại: một cách tự nhiên, bầucử và gia truyền. Quý tộc tự nhiên là cách thức chính quyền do các bậc trưởng lão điều hành, thíchhợp cho các dân tộc sơ khai (cách thức bộ lạc). hình thức chính quyền “quý tộc” do bầu cử có nhiềuưu điểm, khi quần chúng bầu ra những người có thể, kiến thức và kinh nghiệm. hình thức nàygần với thể chế cộng hoà ngày nay. Quân chủ, theo Rousseau, không phải là chế độ lý tưởng và tiềmẩn nhiều hiểm nguy cho Chủ quyền tối thượng, trước hết là quyền lợi riêng tư của nhà vua có thểkhông tương đồng với quyền lợi của nhân dân, thứ đến là sự bổ nhiệm quan chức rất có khả năng khôngđược căn cứ trên tài năng mà trên tình cảm hoặc tư lợi của nhà vua, và sau cùng là tính gia truyềnkhông bảo đảm người kế vị có đủ tài đức của một vị vuaCon người nhân tạo “Hội đồng tối cao”, hay Cơ cấu chính trị tương đương một con người thường, có sinhvà có diệt. Rousseau ví quyền lập pháp như trái tim của nhà nước, quyền hành pháp là bộ óc điềukhiển các chi thể hoạt động. Khi bộ óc bị tê liệt, con người vẫn có khả năng còn sống dù chỉ sống như thựcvật, nhưng khi quả tim ngừng đập thì con người sẽ chết. Cũng cùng một thể ấy, cơ cấu chính trị sẽchết khi người dân thờ ơ với nghĩa vụ công dân của họ nhất là trong lãnh vực lập pháp (chương 11, q.III). không chỉ chỉ trong lĩnh vực lập pháp, “khi công dân không còn quan tâm đến việc đáp ứngcông ích nữa, và thích đáp ứng quốc gia bằng tiền hơn là chính bản thân họ, thì quốc gia đó sắp sửatiêu vong.” Nhưng làm thế nào để bảo đảm sự trường tồn của quốc gia, của nhà nước, khi con ngườiluôn đặt quyền lợi cá nhân lên trước quyền lợi tập thể? Trong chương 8, quyển IV, Rousseau luận vềmột loại tôn giáo của dân sự, khác với tôn giáo của tín ngưỡng. Tôn giáo của tín ngường, đặc biệt làThiên Chúa giáo của Âu châu, không phù hợp với con người dân sự, vì tôn giáo dạy con người yêumến vương quốc trên trời, chứ không phải đất nước dưới đất; dạy con người chịu đựng khổ đau, chứkhông dạy con người chống lại cường quyền (quan niệm này của Rousseau gần với quan niệmMarxist về tôn giáo). Rousseau cho rằng đó không phải là đức tính công dân, ông đề nghị nhà nướcphải đứng ra giáo dục công dân về lòng yêu nước, về bổn phận, nghĩa vụ và đạo đức công dân.Khi đặt bút viết Khế ước Xã hội, Rousseau minh định là tìm xem đâu là nguyên lý chính đáng thiết lậpnên nhà nước và chính quyền dân sự. Nhà nước được lập nên bởi một khế ước do tất cả mọi người dânđồng thuận, trao quyền lực chính trị cho chính quyền là những người công bộc của dân để điều hànhđất nước theo nguyện vọng và ý chí tập thể. Quyền lực chính trị của chính quyền sẽ bị thu hồi bất kỳlúc nào, nếu chính quyền không làm đúng chức năng được nhân dân giao phó. Khế ước Xã hội, Vì vậy,được coi là bản họa đồ xây dựng một thể chế dân chủ-cộng hòa hiểu theo nghĩa ngày nay, một chínhquyền “của dân, do dân và vì dân”. Những vấn nạn Rousseau nêu ra về vai trò tuyệt đối vô tư của Lậppháp, về sự tiếm quyền của hành pháp đã được các nhà sáng lập ra nước Mỹ giải quyết bằng nguyên

tắc phân quyền và đại biểu dân cử. Dĩ nhiên, không có chế độ nào có khả năng được coi là hoàn hảo, nhưngnhư Churchill đã nói: “Dân chủ không phải là một chế độ hoàn hảo, nhưng còn khá hơn bất kỳ mộtchế độ nào đã từng xuất hiện trong lịch sử loài người,” và sau này Thủ tướng Nehru của Ấn độ cũng đồngtình: “Dân chủ là một chế độ tốt vì mọi chế độ khác đều nặng hơn rất nhiều.” Nền tảng tư tưởng chính trịcủa Rousseau, thể hiện trong Khế ước Xã hội–nhà nước được thiết lập bởi một khế ước xã hội, quyềnlực chính trị thuộc về toàn dân, và nhận định về vai trò tôn giáo trong xã hội–đã tấn công thẳng vào

chế độ chính trị đương thời, và khiến cho tác phẩm này bị liệt vào hàng các Tư tưởng Nguy hiểm và bịđốt tại Paris và Genève. Rousseau phải lưu vong sang Anh sống dưới sự bảo bọc của David Hume(một triết gia chủ trương thuyết công lợi). Năm 1767 Rousseau trở về Pháp và mất năm vào năm1778. Khế ước Xã hội đã từng bị đốt, nhưng không ai có khả năng tiêu diệt được tư tưởng, và tư tưởng củaRousseau đã góp phần không nhỏ vào cuộc Cách mạng Dân chủ Nhân quyền Pháp năm 1789, sự hìnhthành Hiến pháp Hoa kỳ 1787, và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948Jean-Jacques Rousseau sinh ngày 28 tháng 6 năm 1712 tại Genève, Thụy sĩ, trong một gia đình laođộng. Thân phụ của Rousseau là Isaac Rousseau, một người thợ sửa và chế tạo đồng hồ. Gia đìnhRousseau là người gốc Pháp di cư sang Thụy sĩ hơn một trăm năm trước để tránh bị bách hại vì theođạo Tin Lành [3]. Thuở thiếu thời, Jean-Jacques gặp thường xuyên bất hạnh, vì mẹ ông mất ngay sau khi ôngmở mắt chào đời; vì vậy ông phải than lên rằng: “Ngày sinh của tôi là nỗi bất hạnh đầu tiên trongnhững bất hạnh của cuộc đời.” Lúc còn nhỏ Jean-Jacques được cha dạy đọc và viết, nhưng thừa hưởngtính ham đọc sách của cha, ngay từ năm 7 tuổi, ông đã cùng cha đọc hết cuốn sách này sang cuốn sáchkhác, thường xuyên lúc cho tới sáng. Trong thời gian này ông đã được đọc những cuốn sách thuộc loại kinhđiển như Cuộc đời của Plutarch hay Sử Ký của Tacitus. Khi Jean-Jacques được 10 tuổi, một bất hạnhkhác xảy ra khi cha ông–một người yêu nếp sống thiên nhiên và săn bắn–bị cáo buộc là đi săn trộm đãrút gươm chống lại cảnh sát, phải bỏ trốn sang xứ khác, để lại Jean-Jacques và người anh trai cho bàdì Bernard nuôi. Nhưng cũng chẳng bao lâu sau đó, dì Bernard cũng không nuôi nổi Jean-Jacquescùng với đàn con của bà, nên Jean-Jacques lại được gửi đi nhờ một cha xứ ở ngoại ô Genève nuôi hộ.Tại đây Jean-Jacques chỉ được học Kinh Thánh, số học và các bài giảng đạo. Cũng tại đây JeanJacques bị một trận đòn oan và sự kiện này đã tạo ấn tượng sâu sắc cho một cậu bé mới mười một,mười hai tuổi, và là động lực khiến Jean-Jacques sau này viết nên Émile, tác phẩm về giáo dục nổitiếng sau này.Đến năm Jean-Jacques mười ba tuổi, thấy ông thông minh, nhénh nhẹn, cha xứ cho ông đi học nghềvới người thợ làm nghề khắc chữ; trong suốt 5 năm làm việc này, Jean-Jacques tập được viết chữ thậtđẹp. Nhưng ông thày dạy nghề, cũng như thày dạy chữ, là người thô lỗ, hay đánh đập và chửi bới họctrò, nhất là khi thấy ông đọc sách. Sách vở đã là phương thuận tiện giúp Rousseau chấp cánh thoát khỏi cảnhtù túng, khổ sở của một đứa trẻ mồ côi trong thành phố chật hẹp. Năm 16 tuổi Jean-Jacques từ bỏ cuộcđời tập sự khắc chữ và khung trời nhỏ hẹp đó để bắt đầu cuộc sống tự do nhưng cũng lắm gian truâncủa một nhà tư tưởng vĩ đại.Trên bước đường trôi nổi, Rousseau may mắn được Phu nhân de Warrens cưu mang trong một thờigian ngắn (bà này sau trở thành tình nhân của Rousseau); trong thời gian này Rousseau được học âmnhạc. Máu giang hồ lại khiến Rousseau lên đường, tìm đường đến Paris. Rousseau phải làm đủ nghềđể sinh sống, có lúc ông làm thư ký cho một nam tước, có lúc dạy nhạc để kiếm ăn, có lúc phải trộmtáo, trộm lê cho đỡ đói. cuộc sống giang hồ dạy cho Rousseau thường xuyên bài học bởi Rousseau có được ócnhận xét tinh tế, nhưng chưa bao giờ ông được học hành tử tế. đời sống lang bạt cũng cho Rousseaucơ hội quan sát đủ hạng người từ thượng lưu cho đến cùng đinh trong xã hội, và giúp cho ông nhậndiện được các tác động thực sự của xã hội trên những người bình dân, những người mà Rousseau cholà có “bản chất tốt lành.” Năm 25 tuổi nhân dịp trở lại thăm Phu nhân de Warrens, Rousseau nhậnđược một số tiền hương hỏa từ của cải/tài sản của mẹ ông, và vừa dạy nhạc, vừa kèm trẻ, Rousseau sốngtương đối thanh thản không phải lo nghĩ về tiền bạc. Ông sống cách ly với thế nhân trong một căn nhànhỏ, rồi bắt đầu sáng tác nhạc và tự đào luyện cho mình thành một nhà trí thức bằng cách “làm bạn”với Plato, Bacon, Copernicus, Newton, Galileo, Spinoza, và Locke. Chẳng bao lâu tiếng lành đồn xavề Rousseau, một thanh niên không chỉ có học vấn uyên bác và tư duy độc đáo, mà còn đạo đứcnữa, vì ông sống thực với triết lý sống của mình–một đời sống vật chất dễ dàng đến mức khắc khổnhư dân Sparta, không thỏa hiệp về tín ngưỡng, và không ngớt cổ võ cho sự bình đẳng giữa người với

người. Khi đã nổi tiếng trong giới thượng lưu, Rousseau lên Paris và tại đây ông làm quen với nhữngtrí thức hàng đầu của Paris thời bấy giờ như Diderot (người soạn thảo Từ điển Bách khoa của Pháp),Condillac, d’Alembert, vân vân. Tại đây Rousseau gặp và yêu một cô gái giúp việc nhà, thất học tên làThérèse le Vasseure. Thérèse ở với Rousseau cho đến khi Rousseau mất.Sự nghiệp trước tác của Rousseau khởi đầu năm 1749 khi Viện Hàn lâm Dijon đặt ra một cuộc thiluận văn với chủ đề “Sự tiến bộ của văn minh làm băng hoại hay thăng tiến đạo đức?” Luận văn củaRousseau tuy đoạt giải thưởng của Hàn lâm viện Dijon, nhưng cũng tạo cho ông một thế đứng riêngbiệt, tách khỏi giới trí thức – các triết gia philosophe – đương thời. Sau đó Rousseau viết một luận đềkhác, cũng dự thi giải thưởng của Hàn lâm viện Dijon, với tựa đề “Luận đề về Căn nguyên của sự bấtbình đẳng của con người.” Luận đề này còn giúp Rousseau nổi tiếng hơn nữa. Cuối thập niên 1750,Rousseau cho ra đờiTiểu thuyết Héloise và tạo nên một trường phái văn chương mới tách khỏi trườngphái tân-cổ điển đương thời. Hai năm sauTiểu thuyết Héloise, Rousseau viết Émile, một trứ tác về giáodục có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng của John Dewey, một triết gia và nhà giáo dục lừng danh của

Hoa kỳ. Khế ước Xã hội cũng ra đời trong giai đoạn này, và mở đường cho cuộc Cách mạng Pháp vàTuyên ngôn Nhân quyền Pháp 1789.



Các câu hỏi về học thuyết pháp lý là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê học thuyết pháp lý là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết học thuyết pháp lý là gì ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết học thuyết pháp lý là gì Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết học thuyết pháp lý là gì rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về học thuyết pháp lý là gì


Các hình ảnh về học thuyết pháp lý là gì đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tra cứu thêm thông tin về học thuyết pháp lý là gì tại WikiPedia

Bạn có thể tham khảo thêm thông tin về học thuyết pháp lý là gì từ web Wikipedia.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

???? Nguồn Tin tại: Moviee.vn

???? Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://moviee.vn/hoi-dap/

Related Posts

About The Author

One Response

  1. thắm hồng
    15/04/2022

Add Comment